Tống Biệt Hành

Chương 2: Lao lung

Tống Nhã Uyên vùi đầu ngắm tuyết, từng bước chân hòa vào nhịp luân chuyển của chốn phồn hoa. Ánh mai đã lên ngang tầm với, hoài xuân nữ tử dìu dặt nối gót, ngựa xe như nước, áo quần như nêm, tơ liễu vấn vương giữa một mảnh kinh kỳ náo nhiệt. Tống Nhã Uyên cố lờ đi tiếng gần xa nhộn nhịp, lại ép mình ngó lơ vị tanh nồng vương nơi cổ họng, trong lòng nặng trĩu.

Y vừa bước vào sảnh chính lại bị tiếng roi vun vυ't cắt đứt dòng suy nghĩ miên man. Phía trước là một cảnh tượng khiến lòng người hãi hùng, Chu Thái Nghi cầm chiếc gậy làm từ gỗ lim xẹt, thân dài bốn thước đập dần dật vào lưng Đào Dĩ An.

Nắng giờ Thìn chưa vội gay gắt, hắt lên vầng trán bịn rịn mồ hôi của Thiền Trác tiên sinh lại khiến người nhìn không hẹn mà cùng thấy rát lưng. Tống Nhã Uyên nuốt nước bọt ừng ực, chân muốn lùi bước nhưng tâm can tội lỗi lại dấy lên nỗi dằn vặt như sóng xô biển trào.

Y đang trong thời gian bị cấm túc, đêm qua vì muốn được trốn ra ngoài lại phải nhọc lòng diễn một màn thâm trầm sướt mướt bi ai trước mặt Đào Dĩ An. Vốn tính toán để về trước giờ Mão, ấy vậy đầu óc lại cứ như sao, lúc ẩn lúc hiện, đến khi lết được đến cổng phủ mặt trời cũng gần đứng bóng, nắng chen nhau chiếu bỏng rát trên đỉnh đầu.

Bất quá, mười trận Đào Dĩ An gánh hộ y rồi, lần này y quyết vì người mà quân tử một lần. Tiếng roi của Chu Thái Nghi vẫn ầm ầm giáng xuống, đến tai Tống Nhã Uyên lại như sét đánh ngang tai khiến hai chân y nhũn như bùn, thất thần quỳ phục xuống, lưng khom ngang đất, không rét mà run.

Thiền Trác tiên sinh mang gương mặt nhuộm sương gió ám màu tro nhìn chằm chằm y. Môi mím lại một đường, đáy mắt vết chân chim tưới chút nắng, đồi mồi hằn da tay căng trên từng thớ gân, theo cái siết gậy thật chặt mà ửng đỏ. Đôi mắt già đời ấy nhuốm đầy ưu tư, giờ phút này lại như hai quả cầu lửa cháy lên phừng phực ghim chặt lên người Tống Nhã Uyên.

Chu Thái Nghi đặt tách trà xuống bàn, nhẹ giọng gọi: "Tống Nhã Uyên, con lại đây."

Tống Nhã Uyên hai chân như đeo đá, ngập ngừng bước tới. Chu Thái Nghi hiếm khi tức giận, nhưng một khi tiên sinh giận, đều khiến Tống Nhã Uyên run rẩy sợ hãi.

"Tống Nhã Uyên. Đêm qua con phơi mình ngoài trời suốt cả đêm, lại lén lén lút lút đổ bỏ thuốc không chịu uống, còn giấu giấu diếm diếm mang rượu cho Đào Dĩ An. Những điều này, tiên sinh nói có đúng không?"

Nhã Uyên cúi đầu, đem đôi bàn tay đang dấy lên từng cơn ê ẩm giấu vào vạt áo đỏ. Y cất giọng buồn thiu. "Vâng."

Chu Thái Nghi trầm mặc: "Nhã Uyên, từ nhỏ đến lớn, thân thể con đã yếu ớt, bệnh tật triền miên quấn thân, còn chưa khiến con sợ hãi hay sao?"

Y không nói, chỉ cúi đầu, bấu chặt lấy vạt áo.

Chu Thái Nghi lặng lẽ nhìn y, cất giọng nhẹ nhàng: "Dưới đất lạnh lắm. Đứng dậy đi. Hoàng thượng cho truyền con vào cung?"

Tống Nhã Uyên vâng một tiếng, rón rén đứng dậy, ngoan ngoãn như chó nhỏ biết điều. Y gật đầu, chậm rãi cất giọng: "Bắc Mạc đưa người tới rồi."

Chu Thái Nghi lắc đầu, thở ra một hơi dài, mắt hướng lên bầu trời nhợt nhạt của Trường Đô: "Sớm muộn gì cũng có ngày này thôi."

Ưng phía bắc vụt lên, xẹt một tiếng như muốn xé tan bầu trời đang lặng lẽ vặn mình của Trường Đô.

Tống Nhã Uyên nhìn theo, rồi lặng lẽ phả giọng nhẹ tựa gió vào không gian: "Tiên sinh, Bắc Mạc xưa nay không can dự triều chính, chẳng màng đến Trường Đô. Khắc Thành lại mới đại phá quân Tề, về lí về tình lẽ ra phụ hoàng phải trọng thưởng cho họ mới đúng. Từ xưa đến nay Lăng gia trấn giữ Bắc Mạc. Tam đại doanh lại do hai huynh đệ Lăng gia thống lĩnh. Vậy mà phụ hoàng lại muốn điều một trong hai huynh đệ họ về Trường Đô... Chẳng lẽ phụ hoàng không lo lắng Lăng gia nghi ngờ, rồi nổi lòng binh biến sao?"

Chu Thái Nghi ngẩng đầu nhìn ánh dương đứng bóng, cất giọng trầm trầm: "Con cũng biết, Thục Đông có Trương thị trấn thủ Hải Thành, hai doanh Sa Đoan còn đang phải gồng mình gánh từng đòn phản công dữ dội của quân Thương. Huống hồ, Nhật Thành còn có Nghiêm gia và Đỗ gia, ba nhà kiềm nhau như kiềng ba chân. Thục Đông nếu muốn binh biến, còn phải nhòm xem chó giữ cửa trong nhà có ngoạm lấy chân mình trước hay không.

Năm quận Hoằng Tây, Trần gia cùng Khương gia xưa nay như nước với lửa, cọp chưa xuống núi, gà nhà đã tự mổ nhau. Bệ hạ chỉ việc khoanh tay tọa sơn quan hổ đấu, cần gì phải động đến đao thương? Trần tướng quân ngày đêm chạy ngược chạy xuôi từ Quan Tuyết xuống Thanh Hòe ứng phó quân Man. Bọn chúng được mệnh danh là Mạn Đà Huyễn Sát, đâu phải lũ lang sói nhỏ nhoi, mà có thể dẹp yên trong một sớm một chiều.

Còn tám thành Quách Nam, ba nhà Hạ, Vũ, Lương, từ thời tổ tiên đã lấy cày bừa làm kế sinh nhai, ruộng đồng phì nhiêu, làng nghề phồn thịnh, tự cai trị, tự sinh tự dưỡng. Bệ hạ cần gì lo lắng chó cùng rứt giậu?

Chỉ có Bắc Mạc từ bao đời nay vẫn là Lăng gia trấn thủ, lại là cánh quân duy nhất không chịu sự điều động của triều đình. Cán cân trong thiên hạ từ lâu đã nghiêng lệch rồi. Thiết kỵ cùng du quân Bắc Mạc bấy lâu nay là đại họa trong mắt quân Tề. Hai mươi năm nay, quân Tề ba lần bảy lượt công phá Khắc Thành cuối cùng đều chuốc lấy thương vong. Bắc Mạc có nổi lòng binh biến, thì hiện giờ tinh binh trong triều đình dù có dốc hết sức e rằng vẫn khó địch lại. Từ trước đến nay, Bắc Mạc thể hiện lòng trung thành như tường đồng vách sắt, nhưng ai lấy thước mà đo lòng người, ai dám nói Bắc Mạc vĩnh viễn không trở mặt cắn ngược Trường Đô? Bắc Mạc lại vừa phá được quân Tề, oai phong hiển hách như thế làm cả thiên hạ đều tung hô. Chư hầu quyền thế ngày một vững, đâu thể không sợ long ỷ lung lay? Bắc Mạc sớm muộn gì cũng phải tiến cống con tin, để làm an lòng nghi kỵ của bệ hạ là lẽ đương nhiên. Chỉ là thật đáng thương cho con báo nhỏ, lòng ôm chí lớn tung hoành thiên hạ, nay lại bị giam cầm trong chốn lao lung."

Giọng nói trầm tư của Chu Thái Nghi bám theo gió sượt qua, đem tuyết mỏng giăng mắc lên những nhánh cây khẳng khiu.

Tống Nhã Uyên nhìn nắng chiều tưới lên lớp áo bào ánh đỏ của y: "Một con báo bị nhốt, hoặc sẽ gầm rú đến hao mòn sức lực, hoặc sẽ nằm yên mà chờ thời. Tiên sinh, người nghĩ con báo kia thuộc loại nào?"

Chu Thái Nghi nhấc tay áo nhẹ nhàng quét đi lớp băng mỏng đóng trên lan can: "Nếu con báo đó thực sự đủ khôn ngoan, nó sẽ không gào thét hay vùng vẫy. Nó sẽ chờ... chờ đến lúc kẻ giữ l*иg phạm sai lầm."

Tống Nhã Uyên mỉm cười, ánh mắt hững hờ: "Dẫu có chờ được đến ngày l*иg son cửa mở, liệu nó còn đủ sức cắn chết kẻ nắm chìa khóa không?"

"Lòng người mới là xiềng xích đáng sợ nhất."

Tống Nhã Uyên thôi tiếp lời, để ánh mắt hướng đến nơi xa xăm. Lát sau lại thấy giọng Chu Thái Nghi âm âm cất lên: "Đào Dĩ An, ngươi lại đây."

Đào Dĩ An thân như một hồn ma chẳng được ai đoái hoài, quỳ sụp trên đất, tới lúc này mới có người để ý. Hắn khệ nệ đứng dậy, đem ánh mắt thống thiết nhìn Tống Nhã Uyên, chỉ thấy y ráo hoảnh không thèm liếc Đào Dĩ An một cái.

Đào Dĩ An lết thân tàn tạ đi tới chỗ Chu Thái Nghi: "Tiên sinh gọi con."

"Để mình A Cát ở bên cạnh chăm sóc ta là được rồi. Từ nay về sau ngươi theo Nhã Uyên vào cung. Chăm lo nó cho tốt. Rảnh rỗi không có việc gì thì đừng đến làm phiền ta."

Đào Dĩ An vâng vâng dạ dạ, lại thấy trên người mình bỏng dát ánh mắt ruồng bỏ của Tống Nhã Uyên.



Lăng Tiêu Dã giẫm trên băng mỏng, từng bước lấm bùn Trường Đô. Hắn lãnh đạm đưa mắt lướt qua hành lang dài trong hoàng cung. Một cơn rét mướt len lỏi theo cột trụ đỏ son, chầm chậm bám lấy da thịt, khiến sống lưng hắn bất giác lạnh buốt như bị băng tuyết vây hãm.

Thôi Mộ Nhai chầm chậm đi đến, cung kính hành lễ với Lăng Tiêu Dã, động tác nhẹ nhàng như trăng in đáy nước: "Lăng nhị công tử, hoàng thượng đang ở Ngự Hoa Viên đợi công tử. Mời đi bên này."

"Đạ tạ Thôi công công."

Gió nhè nhẹ cuốn hoa lê đang rơi lả tả trên đất, phủ lên tấm long bào vàng nhạt của bậc Đế vương. Tay cầm chén trà ấm khẽ lắc lư, lắng nghe từng bước chân đang tiến lại gần, Tống Nhạc khẽ nhếch khóe môi, ánh mắt thâm thúy rơi xuống bóng người đang đội tuyết tiến vào.

Lăng Tiêu Dã bước đến: "Thần tham kiến bệ hạ."

Tống Nhạc buông chén trà còn đang nghi ngút khói, phất tay nhẹ nhàng, cất tiếng cười vang.

"Miễn lễ, miễn lễ. Tiểu tử này, khanh cũng thật là, vừa về đến Trường Đô đã náo loạn rồi."

Lăng Tiêu Dã khẽ nhướng mày, ánh mắt lạnh lùng. Hắn vừa đặt chân đến Trường Đô đã cảm nhận được ánh mắt ẩn giấu trong gió, tai người vùi trong tuyết lạnh, dõi theo từng nhất cử nhất động của hắn. Hắc mã của hắn còn chưa kịp in dấu trên nền tuyết, kẻ trong bóng tối đã tường tận từng hơi thở hắn cất lên. Bàn chân nửa vời bước vào Trường Đô, Lăng Tiêu Dã đã thấu rõ cái gông xiềng vô hình này đang siết chặt lấy y.

Hắn khép mắt, ngoài mặt bình thản, khe khẽ cười nhạt: "Bệ hạ cũng nghe được rồi sao?"

Tống Nhạc nhấp một ngụm trà, khe khẽ lắc đầu: "Chuyện của khanh, ai còn không biết? Tiểu tử này cũng thật là, một thân bụi bặm đường xa chưa tẩy đã vội vàng gây chuyện."

Lăng Tiêu Dã không đáp, chỉ cất tiếng cười.

"Nói đi, tiểu tử, lần này về kinh có tính chuyện thành gia lập thất chưa?"

Lăng Tiêu Dã hơi khựng lại, rồi âm trầm trả lời: "Bệ hạ, một nữ nhân sao có thể cản được bước chân của thần chứ!"

Tống Nhạc bật cười, vỗ nhẹ tay lên bàn: "Tiểu tử này thật khí phách. Vậy là chưa có ai lọt vào mắt xanh của khanh rồi."

Lăng Tiêu Dã thản nhiên đáp: "Thần chỉ có ngựa sắt đao lang, còn nữ nhân... nếu có duyên thì sẽ gặp."

Tống Nhạc thở dài một hơi, khe khẽ phất tay: "Thôi được rồi, không nói chuyện này nữa. Lại đây, đánh cờ với trẫm."

Lăng Tiêu Dã nhấc vạt áo, không nhanh không chậm ngồi xuống: "Nếu thần thắng, bệ hạ có thưởng gì không?"

Tống Nhạc bật cười, ánh mắt như chứa một tia thách thức: "Nếu khanh thắng, trẫm ban cho khanh một điều ước. Nhưng nếu thua..."

Lăng Tiêu Dã nhướng mày: "Nếu thua thì sao?"

Tống Nhạc nhấp trà, cười ý vị: "Thì khanh phải ở lại Trường Đô, ngoan ngoãn tìm một nàng dâu về cho trẫm xem."

"Vậy thần đành phải dốc sức mà thắng rồi."

Nhưng hắn biết, ván cờ này dù hắn có thắng, điều ước của hắn cũng không bao giờ thực hiện được.

Nắng cuối chiều lan nhanh trên những nhành mai trắng muốt, phả vào đôi mắt trầm tư của Lăng Tiêu Dã. Nhìn thế cục trên bàn cờ, Lăng Tiêu Dã khe khẽ nheo mắt. Hắn cầm chặt quân cờ trong tay, ngón tay cái chầm chậm vuốt nhẹ trên bề mặt nhẵn nhụi. Một quân trắng đơn độc, lẻ loi giữa biển đen dày đặc.

Hắn ngước mắt nhìn Tống Nhạc, chậm rãi đặt quân cờ xuống bàn, lặng lẽ mỉm cười: "Xem ra, thần thua rồi."

"Tiểu tử, đời người cũng giống như ván cờ này. Đi sai một bước, cả ván cờ liền sụp đổ."

Lăng Tiêu Dã nhếch môi cười, lười biếng dựa lưng ra sau: "Bệ hạ, nếu mà trên chiến trường cũng như ván cờ này, thần e rằng cả thiên hạ đều xưng bá hết rồi. Cầm binh không thể chỉ nhìn vào thế cục, mà phải nhìn vào lòng người."

Tống Nhạc bật cười lớn: "Tiểu tử, khanh trưởng thành lên không ít. Nhưng người thua rồi, thì phải chịu phạt."

"Bệ hạ có điều không biết, thần phong lưu đã thành tính. Cưới một nữ nhân không thể cản được bước chân của thần, nhưng nhiều nữ nhân thì có thể. Chi bằng bệ hạ cho thần cưới luôn bảy, tám người một lượt."

Tống Nhạc thả tiếng cười vui vẻ tan vào gió cuối chiều: "Một lúc cưới bảy, tám người, tiểu tử, khanh có bản lĩnh đó không?"

Lăng Tiêu Dã nghiêng người ghé sát lại: "Chẳng phải có câu "lửa gần rơm lâu ngày cũng bén" sao. Thần đây là lửa, bệ hạ chỉ cần cho thần một bó rơm, thần đảm bảo sẽ đốt sạch sẽ."

Hắn vươn người nhặt lấy một quân cờ đặt vào lòng bàn tay: "Bệ hạ, ngài biết rõ thần là người như thế nào. Nếu cứ trói chân trói tay thần lại, e rằng sớm muộn cũng có ngày thần phá tan cái l*иg này."

Cơn gió lảng bảng bất chợt quét qua mái đình trong Ngự Hoa Viên, xoáy tuyết trên không trung thành một màn dày đặc, che kín bầu trời Trường Đô.

Tống Nhạc nhìn tuyết lả tả ngoài hiên, âm trầm cất lời: "Vậy trẫm phải xem khanh có bản lĩnh đó hay không? Trẫm nghe nói trong trận Khắc Thành khanh dẫn binh trấn thủ mười ngày mười đêm tại Thương Thuyết Phong, phóng hỏa thiêu rụi lương khố địch, chém rơi nghìn thủ cấp quân Tề. Tiểu tử khá lắm. Sao nào? Muốn trẫm thưởng gì cho ngươi?"

Lưng Lăng Tiêu Dã thoáng chốc cứng đờ, hắn nhìn chén trà đã nguội lạnh trên bàn, lòng hắn thoáng chốc trùng xuống như rơi vào hố sâu không đáy. Nhắc đến chiến sự Khắc Thành, chẳng khác nào xé toang vết thương vừa khép.

"Bệ hạ định ban thưởng gì cho thần đây?"

Tống Nhạc nhấp ngụm trà, chậm rãi nói: "Cấm Quân của trẫm hiện tại không có ai chưởng quản, cũng cần một người đứng ra dẹp yên. Trẫm thấy khanh rất hợp, phong khanh làm Đô Đốc tổng binh, trông coi Cấm Quân, bảo vệ hoàng thành. Thế nào, vừa ý chứ?"

Lăng Tiêu Dã bật cười, giọng điệu biếng nhác: "Được bệ hạ coi trọng đến vậy, thần đành cố mà trông nom Cấm Quân cho tốt, miễn để bệ hạ nhọc lòng."

Dưới triều Thiên Ứng, Cấm Quân được mệnh danh là "thiên tử binh", hàng ngũ tinh nhuệ bậc nhất triều đình. Khi ấy, Cảnh tướng quân - Cảnh Bạch Nghiên nắm quyền cai quản Cấm Quân, tung hoành ngang dọc, khiến giặc ngoài khϊếp sợ. Nhưng đến thời Hồng Đức, sau biến loạn Nguyên Đán những năm cuối Thiên Ứng, Cảnh Bạch Nghiên tử trận trên sông Kỳ Lộ trong cuộc chiến với quân Man, Cấm Quân từ đó suy yếu, từ bầy hổ lang dũng mãnh hóa thành lũ chó giữ cửa hoàng cung.

Hồng Đức lên ngôi, không còn để Cấm Quân là lưỡi đao nắm giữ thiên hạ, mà tự tay xây dựng một đội quân tinh nhuệ riêng, quyền sinh sát chỉ nằm gọn trong tay đế vương. Cấm Quân hiện tại chỉ có ba nghìn người, chia làm sáu vệ, danh vẫn còn nhưng thực chất đã sớm mục rỗng. Kẻ thì canh giữ ngựa trong hoàng cương, kẻ lo nhạc lễ cung đình, thậm chí có kẻ còn cấm cày khuyến nông. Một đội quân từng khiến kẻ địch nghe danh đã khϊếp sợ, giờ chỉ còn là cái bóng tàn tạ của quá khứ.

Chức Đô Đốc tổng binh mà Lăng Tiêu Dã được phong, nhìn thì như là trọng trách vinh quang, nhưng thực ra chẳng khác mảnh ngói vỡ lẫn trong rương báu. Tống Nhạc cho hắn chức vị này, không phải để hắn dụng binh xưng hùng, mà là để trói buộc hắn, cho hắn một cái danh hào nhoáng, nhưng bên trong lại là một tấm lưới siết chặt lấy tự do.

Hắn hành lễ tạ ơn sau đó xin cáo lui, lẳng lặng bước ra ngoài. Ráng chiều đỏ au như màu máu, nhuốm vào vạt áo hắn ngậy mùi tanh tưởi, ưng Bắc Mạc chao liệng trên bầu trời, xuyên qua tầng không như muốn đạp rách phăng tấm vải mục nát đang phủ lên khắp Trường Đô.